Một nghiên cứu sinh dành ba tuần ngồi cuối một lớp tiểu học để tìm hiểu cách giáo viên xử lý học sinh chậm hiểu. Khi bắt đầu phân tích, cô mở sổ và thấy những dòng như “cô giáo rất kiên nhẫn”, “không khí lớp tích cực”, “một em có vẻ chán”. Không có giờ, không có lời nói cụ thể, không biết em nào. Ba tuần công sức gần như không dùng được.
Quan sát là phương pháp duy nhất cho bạn thấy người ta làm gì thay vì nghe họ kể mình làm gì. Nhưng giá trị của nó nằm hoàn toàn trong ghi chép. Điều gì không được viết ra đúng cách thì với phân tích, coi như chưa từng xảy ra.
Khi nào nên quan sát thay vì phỏng vấn
Quan sát đáng công khi hành vi khác với lời kể (bác sĩ nói luôn giải thích cho bệnh nhân, nhưng một buổi khám thực tế chỉ kéo dài bốn phút), khi người tham gia không ý thức được thói quen của mình, hoặc khi tương tác giữa nhiều người là trọng tâm. Nó kém phù hợp khi điều bạn cần là suy nghĩ, động cơ hay trải nghiệm quá khứ.
Phần lớn đề tài tốt dùng cả hai: quan sát để thấy, phỏng vấn để hỏi vì sao. Quan sát trước giúp câu hỏi phỏng vấn cụ thể hơn hẳn.
Chọn vai trò người quan sát
| Vai trò | Mô tả | Được | Mất |
|---|---|---|---|
| Quan sát hoàn toàn | Không tương tác, người được quan sát biết hoặc không | Ít can thiệp | Không hỏi được ý nghĩa hành động |
| Người quan sát có tham gia | Có mặt công khai, trò chuyện đôi chút | Cân bằng | Hiệu ứng có người lạ trong những ngày đầu |
| Người tham gia có quan sát | Làm việc cùng họ, ví dụ phụ giảng | Hiểu sâu từ bên trong | Khó ghi chép tại chỗ, dễ mất khoảng cách |
Hãy chọn và viết rõ vai trò trong chương phương pháp. Người đọc cần biết dữ liệu được thu từ vị trí nào để đánh giá nó.
Quan sát cái gì: đừng quan sát “mọi thứ”
Người mới thường ngồi xuống và cố ghi hết. Sau một giờ, họ kiệt sức và ghi lại những thứ nổi bật nhất, tức là những thứ bất thường nhất, không phải những thứ quan trọng nhất. Chuẩn bị trước một khung chú ý, có thể theo các chiều:
- Không gian: bố trí bàn ghế, ai ngồi gần ai, lối đi.
- Người: ai có mặt, vai trò, ai vắng mặt.
- Hoạt động và chuỗi sự kiện: việc gì diễn ra theo thứ tự nào, mất bao lâu.
- Lời nói nguyên văn: những câu then chốt, ghi đúng từng chữ.
- Vật dụng: tài liệu, điện thoại, công cụ được dùng thế nào.
- Điều không xảy ra: câu hỏi không ai đặt, học sinh không được gọi tên lần nào.
Khung này không phải phiếu đánh dấu. Nó giữ cho bạn nhìn đều các mặt, rồi dần thu hẹp vào điều liên quan tới câu hỏi sau vài buổi đầu.
Ghi chú tại chỗ: nhanh, ngắn, có giờ
Trong lúc quan sát, bạn chỉ kịp ghi chú nhanh (jottings): từ khoá, lời nói nguyên văn, giờ phút, sơ đồ vị trí. Một số quy ước giúp ghi nhanh:
- Ghi giờ ở lề trái mỗi khi có sự kiện mới: 09:14, 09:17.
- Đặt mã cho người thay vì tên: GV, HS3 (bàn ba, áo xanh). Vừa nhanh vừa bảo vệ danh tính.
- Dùng ngoặc kép kiểu chữ cho lời nói nguyên văn, ngoặc vuông cho suy nghĩ của bạn: [có vẻ GV bỏ qua HS3 vì hết giờ?].
- Vẽ sơ đồ phòng ở trang đầu mỗi buổi.
Ở những bối cảnh mà cầm sổ gây chú ý, ghi vài từ trên điện thoại hoặc ra ngoài vài phút để ghi, rồi quay lại.
Viết lại ghi chép đầy đủ trong 24 giờ
Đây là bước quyết định và cũng là bước hay bị bỏ nhất. Trí nhớ về chi tiết suy giảm rất nhanh sau buổi quan sát. Quy tắc thực hành: không ngủ trước khi viết lại. Nhiều nhà nhân học lâu năm dành thời gian viết bằng hoặc nhiều hơn thời gian quan sát.
Một bản ghi chép đầy đủ nên có bốn phần tách biệt:
- Thông tin buổi: ngày, giờ bắt đầu và kết thúc, địa điểm, ai có mặt, vai trò của bạn.
- Mô tả: điều bạn thấy và nghe, theo trình tự thời gian, cụ thể đến mức người khác hình dung được.
- Ghi chú phân tích: ý tưởng, mẫu hình bạn bắt đầu thấy, liên hệ với lý thuyết.
- Ghi chú cá nhân và phương pháp: cảm xúc của bạn, điều bạn làm có thể ảnh hưởng đến tình huống, việc cần làm buổi sau.
Tách mô tả khỏi diễn giải
Lỗi phổ biến nhất trong ghi chép là viết kết luận thay cho quan sát. So sánh:
- Diễn giải: “Giáo viên rất kiên nhẫn với học sinh yếu.”
- Mô tả: “09:22, HS3 trả lời sai phép chia lần thứ hai. GV đi xuống bàn, ngồi xổm bên cạnh, nói: “Mình thử lại với 12 cái kẹo nhé.” Cuộc trao đổi kéo dài khoảng ba phút, trong lúc đó cả lớp làm bài tập ở trang 34.”
Mô tả cho phép người đọc (và chính bạn sau sáu tháng) tự đánh giá cái gọi là kiên nhẫn. Diễn giải thì đóng lại mọi khả năng khác. Ghi diễn giải được, nhưng đặt nó ở mục ghi chú phân tích.
Đạo đức và hiệu ứng người quan sát
Quan sát ở nơi công cộng và quan sát trong lớp học, bệnh viện, nơi làm việc có yêu cầu rất khác nhau. Trong môi trường có tổ chức, bạn cần sự chấp thuận của người phụ trách, thông tin cho người tham gia, và phê duyệt của hội đồng đạo đức nếu trường yêu cầu. Với trẻ em, cần sự đồng ý của phụ huynh và nhà trường. Không chụp ảnh, ghi âm nếu chưa được phép rõ ràng.
Người được quan sát thường thay đổi hành vi trong những buổi đầu. Cách giảm: đến đều đặn, để vài buổi đầu làm quen và đánh dấu dữ liệu của chúng, so sánh hành vi đầu kỳ và cuối kỳ quan sát.
Mẫu một trang ghi chép
Buổi 7 – Lớp 3B – Thứ Ba – 08:45 đến 10:10 – Vai trò: quan sát có tham gia, ngồi bàn cuối bên cửa sổ.
Mô tả: 08:47 GV phát phiếu, nói: “Hôm nay làm theo cặp.” HS xếp cặp theo chỗ ngồi, riêng HS3 và HS11 không có cặp; GV ghép hai em với nhau lúc 08:50...
Ghi chú phân tích: lần thứ ba thấy các HS được gọi riêng đều bị ghép cặp với nhau, có thể là một dạng phân nhóm ngầm.
Ghi chú phương pháp: hôm nay GV hỏi tôi có ghi tên HS không, cần nhắc lại cam kết ẩn danh.
Bước tiếp theo: trước buổi quan sát đầu tiên, soạn khung chú ý một trang và mẫu ghi chép bốn phần ở trên. Sau buổi đầu, đọc lại bản viết của mình và gạch mọi câu là diễn giải nằm lẫn trong phần mô tả. Thói quen đó, hình thành sớm, sẽ quyết định chất lượng của cả kho dữ liệu.
Câu hỏi thường gặp
Ghi chép thực địa là gì?
Là bản ghi có hệ thống về những gì người nghiên cứu thấy và nghe tại hiện trường, gồm ghi chú nhanh tại chỗ và bản viết lại đầy đủ sau đó. Bản đầy đủ tách phần mô tả khỏi ghi chú phân tích và ghi chú cá nhân.
Có nên ghi âm hay quay phim khi quan sát không?
Chỉ khi được phép rõ ràng và việc ghi hình không làm thay đổi quá nhiều hành vi của người tham gia. Ngay cả khi có ghi hình, ghi chép vẫn cần thiết để lưu lại bối cảnh, ý tưởng phân tích và điều máy không bắt được.
Quan sát bao nhiêu buổi là đủ?
Không có con số cố định. Thường nên quan sát cho đến khi các buổi mới không còn cho thấy mẫu hình mới liên quan đến câu hỏi, và phải có đủ số buổi để vượt qua giai đoạn người tham gia còn thay đổi hành vi vì có người lạ.
Quan sát tham gia khác quan sát không tham gia thế nào?
Trong quan sát tham gia, người nghiên cứu cùng làm các hoạt động với người được quan sát để hiểu từ bên trong. Quan sát không tham gia giữ khoảng cách và không can thiệp vào hoạt động, đổi lại khó hỏi được ý nghĩa của hành vi.
Làm sao giảm việc người được quan sát thay đổi hành vi?
Đến đều đặn trong thời gian đủ dài, coi các buổi đầu là giai đoạn làm quen, giữ thái độ kín đáo và so sánh hành vi đầu kỳ với cuối kỳ quan sát. Việc giải thích rõ mục đích cũng giúp người tham gia bớt dè chừng.